Du Học Nhật Bản Tìm hiểu Nhật bản Văn Học Nhật Bản

Văn Học Nhật Bản

Toàn tập lịnh sử văn học Nhật Bản từ thương đại đến hiện đại.

Văn học Nhật Bản là một trong những nền văn học dân tộc lâu đời nhất và giàu có nhất thế giới nảy sinh trong môi trường nhân dân rộng lớn từ thuở bình minh của các bộ tộc Nhật Bản, rất lâu trước khi quốc gia Nhật Bản được thành lập.

 

Chúng ta không biết ngọn nguồn của văn học thành văn Nhật Bản khởi điểm chính xác từ khi nào, chỉ có thể ước định qua những tác phẩm khởi nguyên của văn học Nhật Bản vẫn được đánh giá là kiệt tác cổ điểm như Vạn diệp tập thế kỷ thứ 8, thi tuyển tập hợp 3 thế kỷ thi ca trước đó của Nhật Bản và các cuốn sử Cổ sự ký và Nhật Bản thư kỷ văn bản hóa các truyền thuyết huyền thoại lập quốc Nhật Bản.
Theo một số học giả có lẽ do ảnh hưởng của Âu châu luận lịch sử văn học Nhật Bản có thể chia ra 3 thời kỳ chính: Cổ đại, Trung cổ và Hiện đại, tương đương với các phân kỳ lịch sử kinh điển thường gặp trong văn học phương Tây. Tuy nhiên trong cuốn Nhật Bản văn học toàn sử do sách: Thượng đại, Trung cổ, Trung thế, Cận thế, Cận đại và Hiện đại.

Địa điểm di sản văn hóa UNESCO
Địa điểm các di sản văn hóa thế giới của Nhật Bản
•    Chùa Huryu (法隆寺 Hōryū-ji, Pháp Long tự) là một ngôi chùa ở Ikaruga huyện Nara. Tên đầy đủ là Pháp Long Học Vấn Tự (法隆学問寺 Hōryū Gakumonj), được biết đến với tên như vậy do đây là nơi vừa như một trường dòng vừa là một thư viện. Ngôi chùa được biết đến như một trong các kiến trúc bằng gỗ có tuổi thọ cao nhất thế giới và là một nơi linh thiêng nổi tiếng ở Nhật Bản. Vào năm 1993 được ghi tên vào “các thắng cảnh di sản thế giới được UNESCO công nhận” và được chính phủ xếp vào loại di sản quốc gia.
•    Gusuku là từ của người Okinawa nghĩa là “lâu đài” hay “pháo đài”. Viết bằng Kanji theo nghĩa “lâu đài”, 城, phát âm là shiro. Có nhiều Gusuku và các di sản văn hóa ở Ryukyu đã được UNESCO tặng danh hiệu Di sản văn hóa thế giới.
•      Thành Himeji (姫路城 Himeji-jō?) là một khu phước hợp gồm 83 tòa nhà bằng gỗ tọa lạc trên một khu vực đồi núi bằng phẳng ở huyện Hyogo. Thường được biết đến với tên  Hakurojo hay Shirasagijo (lâu đài hạc trắng) do được sơn phủ một lớp màu trắng tinh xảo bên ngoài. Được vinh dự là kì quan đầu tiên được UNESCO công nhận và là Di sản văn hóa Nhật Bản đầu tiên (tháng 12/1993). Một trong ba lâu đài đón khách viếng đông nhất ở Nhật cùng với tòa lâu đài Matsumoto và Kumamoto.
•    Khu tưởng niệm Hòa bình Hiroshima thường được gọi là Mái vòm nguyên từ (原爆ドーム Genbaku Dome), ở Hiroshima là một phần của Công viên tưởng niệm hòa bình Hiroshima. Vào năm 1996 được UNESCO công nhận di sản thế giới.
•    Các công trình kiến trúc lích sử cố đô Kyoto nằm rải rác 17 địa điểm trong đó công trình ở Kyoto, Ujin thuộc phủ Kyoto và Otsu ở huyện Shiga. Gồm có 3 chùa phật giáo, 3 đền Thần đạo và một lâu đài. Riêng 38 cơ sở kiến trúc được chính phủ liệt vào danh sách Di sản quốc gia.
•    160 kiến trúc khác vào danh sách các công trình văn hóa quan trọng. Tám khu vường thắng cảnh đặc biệt và bốn Thắng cảnh đẹp công nhận năm 1994.
•    Các công trình lịch sử Nara cổ.
•    Làng lịch sử Shirakawa-go và Gokayama trên thung lũng song Shogawa trải dài từ ranh giới huyện Gifu và Toyama phía Bắc Nhật Bản. Shirakawa-go (白川郷, "Sông ánh bạc") tọa lạc ở khu làng Shirakawa huyện Gifu. Năm ngọn núi Gokayama (五箇山) bị chia cắt giữa khu làng cũ Kamitaira và Taira ở Nanto tỉnh Toyama.
•    Thần xã Itsukushima (厳島神社, Itsukushima Jinja) là một ngôi đền Shinto trên đảo Itsukushima () ở thành phố Hatsukaichi huyện Hiroshima. Một vài công trình tại đây cũng được chính phủ cho vào danh sách “Di sản quốc gia”.
•    Mỏ bạc Iwami Ginzan (石見銀山 Iwami Ginzan?) là một khu vực khoáng sản tại thành phố Oda huyện Shimane, thuộc đảo Honshu. Được UNESCO ghi tên năm 2007.
•    Dãy núi Kii hay bán đảo Kii (紀伊半島 Kii Hantō?) – một trong các bán đảo lớn nhất ở Honshu.
•    Vùng núi Shirakami (白神山地 Shirakami-Sanchi?) (Địa hạt của thần) nằm ở bắc Honshu. Các ngọn núi này trải dài vững chắc theo các khu rừng nguyên thủy từ huyện Akita đến Aomori. Tổng cộng 1.300 ki lô mét vuông trong đó 169,7 ki lô mét vuông được vào danh sách UNESCO.
•    Vường quốc gia Shiretoko (知床国立公園 Shiretoko Kokuritsu Kōen?) chiếm phần lớn bán đảo Shiretoko ở tận cùng đông bắc đảo Hokkaido theo người Ainu nghĩa là “Nơi tận cùng Trái Đất”. Một trong các cơ sở tôn giáo hẻo lánh nhất của Nhật Bản. Công viên cũng là nơi cư ngụ của loài gấu lớn nhất Nhật Bản, có thể trông thấy khu đảo tranh chấp Kunashiri từ đây. Ngoài ra công viên còn có thác nước nóng Kamuiwakka-no-taki. Theo người Ainu đây là dòng nước của các vị thần được công nhận vào năm 2005 cùng với một phần đảo Kuril do Nga kiểm soát.
•    Nikko (日光市 Nikkō-shi?, "ánh nắng") là một thành phố nằm trên vùng đồi núi thuộc huyện Tochigi. Cách Tokyo 140 Km về phía Bắc và gần 35 km về phía tây của Utsunomiya thủ phủ của Tochigi, nơi quàng lăng tẩm của Tướng quân Tokugawa leyasu (Nikko Tosho-gu) và người cháu trai lemitsu (Iemitsu-byo Taiyu-in) cùng khu đền Futarasan. Shodo Shonin lập đền Rinno vào 782 theo sau không lâu là Đền Chuczen-ji năm 784 bao quanh là làng Đền chùa Nikko. Đều của Nikko Tosho-gu được hoàn tất vào 1617 là một trong các nơi đón khách hàng lễ đông nhất thời Edo. Nikko Tosho-gu, Đền Futarasan và Rinno-ji hiện cũng là Di sản được UNESCO công nhận.
•    Yakushima (屋久島 Yakushima?) là một đảo diện tích 500 ki lô mét vuông và gần 15.000 cư dân, nằm về phía nam của Kyushu ở huyện Kagoshima bị chia cắt khỏi Tanegashima bởi eo biển Vincennes với ngọn núi cao nhất của đảo Myanoura 1.935 m. Được vây quanh bởi rừng rậm dày đặc, đặc trưng với cây thông liễu (ở Nhật gọi là Sugi) và nhiều họ cây đỗ quyên.

Tôn giáo Nhật Bản
Các vị kami trong Thần đạo của Nhật Bản.
Nhật Bản là nước có nhiều tôn giáo, Thần đạo, tôn giáo lâu đời nhất ở Nhật Bản là sự phối hợp của những tín ngưỡng sơ khai ở Đông Á. Thần đạo có các vị thần được gọi là “kami” có thể ban phúc lành chẳng hạn như một cuộc hôn nhân. Vào thế kỉ thứ 6 Phật giáo hệ phái Bắc Tông du nhập vào Nhật Bản qua Triều Tiên. Nghệ thuật và kiến trúc tinh tế của đạo Phật khiến cho tôn giáo này thu hút được sự quan tâm của triều đình lúc đó và Phật giáo trở thành quốc giáo của Nhật Bản. Đạo Phật nhanh chóng được truyền bá khắp Nhật Bản và nhiều phái Phật giáo đã ra đời và phát triển trong đó nổi tiếng nhất ở phương Tây là Thiền tông (Zen). Thiên chúa giáo do người Bồ Đào Nha du nhập vào Nhật Bản năm 1549 và được khá nhiều người Nhật tin theo. Ngày nay ở Nhật không có một tôn giáo bào nổi trội và trên thực tế có nhiều người Nhật cùng lúc tin theo nhiều tôn giáo khác nhau. Nhưng Phật giáo vẫn được xem là quốc giáo của Nhật Bản với khoảng 90 triệu tín đồ và ảnh hưởng của nó vô cùng to lớn, sâu sắc vào mọi mặt trong văn hóa, xã hội và lối sống của người Nhật.


Ẩm thực Nhật Bản
Sushi, món ăn đặc trưng của Nhật Bản thường ăn kèm với wasabi.
Ẩm thực Nhật Bản rất phong phú và đặc biệt. Bao gồm sushi, trà đạo và các món khác như các loại bánh làm từ bột gạo.
Tuy nhiên ẩm thực Nhật Bản cũng khá nguy hiểm với những món ăn như gỏi cá nóc và fugu, được chế biến từ có xem sao của Nhật Bản. Phần bắp và bụng được coi là khá an toàn, nhưng phải có một con mắt thật tinh tường để loại đi những chất độc. Đã bao người phải bỏ mạng vì ăn phải chất độc của món fugu này. Thế nhưng đây được coi là đặc sản của Nhật Bản. Ở trung tâm Tokyo có rất nhiều nhà hàng chế biến món này. Thực khách sẽ tấm tắc khen ngon nếu họ còn sống sau khi ăn món này.

Theo: Wikipedia Nhật Bản 

Xem thêm >> Du học Nhật bản !

quang dinh


Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

ĐIỀU KIỆN ĐĂNG KÝ
   - Những người đang đi học hay đi làm có bằng THPT trở lên    
   - Những người đã xin visa tại các công ty du học khác bị rớt    
- Những người đã đi tu nghiệp về đăng ký đi du học trở lại   

Liên hệ với chúng tôi để biết thêm chi tiết

du hoc nhat ban

hoc tesol o dau tot | chứng chỉ tesol | hoc quang cao google adwords | hoc tieng anh giao tiep | mũ nón bảo hiểm |